Ngày 25/8/2023, Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh của VACC đã tổ chức buổi Tọa đàm để lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo lần 1 QCVN 06:2023 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về An toàn cháy cho nhà và công trình. Buổi tọa đàm đã được tổ chức với đông đảo hội viên tham gia và nhiệt tình đóng góp các ý kiến cho dự thảo. Ban tổ chức buổi tọa đàm xin được liệt kê dưới đây các ý kiến đóng góp của các hội viên đã tham gia:
1/ Nhiệm vụ đưa giải pháp tường ngăn cháy vào thực tiễn gặp rất nhiều thách thức từ khâu xin thẩm duyệt đến nghiệm thu PCCC
Mặc dù đã được ghi nhận là vật liệu không cháy và nằm trong trong cấu kiện danh định-tường bê tông khí chưng áp có khối lượng từ 480kg/m3 cho đến 1200kg/m3 theo Quy chuẩn và đã được quý BXD cho ý kiến xác nhận. Tuy nhiên, nhiệm vụ đưa giải pháp tường ngăn cháy vào thực tiễn gặp rất nhiều thách thức từ khâu xin thẩm duyệt đến nghiệm thu PCCC. Tại một số địa phương, PC07 yêu cầu thực hiện đốt mẫu cấu kiện để đối chứng, đơn cử như mẫu tường đạt REI150. Chúng tôi đã có tiến hành tìm hiểu các lò đốt nhưng đều nhận phản hồi không thực hiện được. Điều này khiến cho dự án buộc phải điều chỉnh lại thiết kế theo hướng dùng gạch đỏ thay thế, đi ngược lại chủ trương định hướng phát triển vật liệu không nung của Thủ tướng Chính Phủ. Một vài dự án ứng dụng bằng bê tông khí chưng áp giải pháp bảo vệ kết cấu, nâng khả năng chịu lửa của chúng dạng rỗng sau khi tham chiếu các giải pháp tại phụ lục F7 lại gặp trở ngại diễn giải tên gọi vật liệu, ví như: bê tông khí chưng áp có thể được hiểu là bê tông xỉ-bọt hay không? Nếu xem xét thành phần vật liệu thì đúng, nhưng nếu xém xét tên gọi thì cần có sự xác nhận của đơn vị chủ trì soạn thảo quy chuẩn và lại gặp khó khăn khi giải thích cho các bên trong dự án, chưa kể là giải trình cho PC07 địa phương.

2/ Các doanh nghiệp đang phản hồi chi phí đầu tư cho PCCC đối với nhà xưởng và nhà kho quá cao
Hiện nay, các doanh nghiệp đang phản hồi chi phí đầu tư cho PCCC đối với nhà xưởng và nhà kho quá cao so với Tổng mức đầu tư dự án. Nên sửa đổi theo hướng giảm chi phí đầu tư đối với nội dụng liên quan đến phòng cháy và bảo vệ thiết bị máy móc bên trong; tập trung ưu tiên cho việc đảm bảo điều kiện thoát hiểm cho người bên trong để giảm chi phí đầu tư ban đầu. Đặc biệt là nhà kho chủ yếu là chứa hàng; ít tập trung đông người.
Kiến nghị:
Đối với vấn đề thoát hiểm, bảo đảm an toàn tính mạng con người khi có hỏa hoạn: Yêu cầu bắt buộc áp dụng
Đối vấn đề liên quan đến phòng cháy, bảo vệ thiết bị và máy móc bên trong: Chỉ khuyến nghị áp dụng đối với một số yêu cầu có chi phí cao. Tùy theo ngân sách, Chủ đầu tư có thể lựa chọn việc áp dụng
VD: Giảm khoảng cách PCCC giữa các nhà trong một cơ sở công nghiệp
3/ QCVN 06:2022/BXD
QCVN 06:2022/BXD hiện tại được viết theo hướng mở để cho CĐT và tư vấn thiết kế có thể linh động cho việc áp dụng. Tuy nhiên hiện tại đang thiếu các TCVN hướng dẫn thực hiện đi kèm => dẫn đến việc ách tắc trong công tác thẩm duyệt và nghiệm thu.
Kiến nghị:
Sớm bổ sung các TCVN vệ tinh hoặc các hướng dẫn đi kèm với QCVN 06 đề thuận tiện cho việc áp dụng cũng như công tác thẩm duyệt, nghiệm thu rõ ràng hơn.
VD: Đối với cấu kiện được yêu cầu GHCL R15, QCVN 06:2022/BXD cho phép tính toán hệ số tiết diện Am/V ≤ 250m-1 thay cho việc thí nghiệm. Tuy nhiên tính toán như thế nào thì chưa có tiêu chuẩn cụ thể.
Mục D8: Thoát khói tự nhiên cho nhà công nghiệp chưa có hướng dẫn cụ thể để thiết kế và tính toán.

4/ Tại QC 06/2022, Phục lục D (Quy định)
BẢO VỆ CHỐNG KHÓI
MỤC D.1.6: Hệ thống cấp không khí bù (cấp không khí từ ngoài vào bù lại khối tích khói đã bị hút ra) chỉ được dùng phối hợp với hệ thống hút xả khói. Không được phép áp dụng riêng hệ thống cấp không khí bù mà không có hệ thống hút xả khói tương ứng. Trong mọi trường hợp, chênh lệch áp suất trên các cửa lối ra thoát nạn phải bảo đảm người bình thường có thể dễ dàng mở được cửa.
Không cho phép sử dụng chung hệ thống bảo vệ chống khói đối với các gian phòng có nhóm nguy hiểm cháy theo công năng khác nhau. Và chi tiết hơn về nội dung này tại mục: D.14.5 Để bù lại khối tích khói đã bị hút ra khỏi gian phòng bởi hệ thống hút xả khói, phải thiết kế hệ thống cấp không khí vào theo cơ chế tự nhiên hoặc cưỡng bức:
a) Không khí theo cơ chế tự nhiên có thể cấp vào qua các lỗ mở trên tường bao che ngoài hoặc qua các giếng cấp không khí với van được dẫn động tự động và dẫn động từ xa. Các lỗ mở phải được bố trí ở phần dưới của gian phòng được bảo vệ. Để bù không khí cho các sảnh thông tầng và hành lang bao quanh sảnh thông tầng có thể sử dụng các lỗ cửa đi của lối thoát nạn trực tiếp ra ngoài trời, khi đó các cửa này phải được điều khiển tự động từ xa. Tổng diện tích thông khí của các lỗ cửa mở phải được xác định phù hợp với D.4 và đáp ứng yêu cầu vận tốc dòng khí đi qua các lỗ cửa không vượt quá 6 m/s.
b) Hệ thống cấp không khí chống khói theo cơ chế cưỡng bức có thể được thiết kế độc lập hoặc sử dụng chính các hệ thống cấp không khí vào khoang đệm ngăn cháy hoặc các giếng thang máy (trừ các giếng thang máy chữa cháy và buồng thang bộ N2).

Kiến nghị:
Cần quy định rõ các trường hợp áp dụng phải có hệ thống cấp khi bù này. Vì hệ thống cấp khí bù này nếu bố trí không đúng sẽ trở thành con dao hai lưỡi. Đám cháy càng lan rộng hoặc phát tán khói nhanh hơn do áp suất dương do hệ thống này nó cấp vào (khi cấp bù cưỡng bức). Trường hợp các khoang có hệ thống hút khói này có tiếp giáp các khoang ngăn khói (VD như buồng thang) thì có nguy cơ khói đẩy ngược vào buồng thang khi cửa thoát hiểm mở trong khoảnh khắc người thoát nạn đẩy cửa chạy thoát hiểm… Tại Quy chuẩn 06/2022, thì chỉ nêu chung chung. Điều này dẫn tới tình trạng lấp lửng trong hồ sơ thiết kế PCCC của dự án: Không biết có phải thực hiện hay không?
Đề xuất của chúng tôi: hoặc là quy định cụ thể không gian, loại không gian, phòng, khoang…bắt buộc có thiết kế hệ thống cấp khí bù này. Hoặc nếu chưa có xem xét cụ thể, tính toán cụ thể thì tạm thời chưa áp dụng nội dung này trong QC 06/2023.
5/ Điều 1.4.45 Phân khoang cháy
Điều 1.4.45 Phân khoang cháy
Một phần của khoang cháy được ngăn bởi các bộ phận ngăn cháy và (hoặc) khu vực không có tải trọng cháy
Kiến nghị:
Làm rõ khái niệm phân khoang cháy bằng khu vực không có tải trọng cháy là khu vực không có tải trọng cháy cụ thể với kích thước bao nhiêu?
6/ Bảng 4 − Sự phù hợp giữa bậc chịu lửa của nhà, công trình và khoang cháy với giới hạn chịu lửa của cấu kiện xây dựng của nhà, công trình và khoang cháy
CHÚ THÍCH 6: Không quy định giới hạn chịu lửa của tường ngoài không chịu lực đối với các mặt nhà đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau:
− Toàn nhà được trang bị chữa cháy tự động sprinkler theo TCVN 7336;
− Bảo đảm khoảng cách phòng cháy chống cháy tối thiểu tương ứng với 100 % diện tích tường ngoài không cần bảo vệ chống cháy tại E.3, Phụ lục E;
− Tường ngoài không chịu lực của nhà có cấp nguy hiểm cháy K0. Vật liệu hoàn thiện tường ngoài (nếu có) là vật liệu không cháy hoặc có tính cháy không thấp hơn Ch1 và tính lan truyền cháy không thấp hơn LT1
Kiến nghị:
Bổ sung thêm CHÚ THÍCH 7: Đối với các nhà xưởng hạng D, E, công trình thấp tầng (3 tầng trở xuống, chiều cao PCCC dưới 15m) không có hệ thống chữa cháy tự động khi đảm bảo khoảng cách PCCC theo bảng E.3, Phụ lục E thì không quy định giới hạn chịu lửa của tường ngoài không chịu lực

7/ Điều 2.5.3.3
Điều 2.5.3.3 Tường chịu lực, cột chịu lực, hệ giằng, vách cứng, giàn, các bộ phận của sàn giữa các tầng và của mái không có tầng áp mái (dầm, vì kèo, xà, tấm sàn, tấm lợp) được coi là các bộ phận chịu lực của nhà nếu chúng bảo đảm độ bền tổng thể và sự ổn định không gian cho nhà khi có cháy. Thông tin về các bộ phận chịu lực nêu trên của nhà phải được đơn vị thiết kế chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của nhà
Kiến nghị:
Bổ sung thêm chú thích áp dụng riêng đối với nhà nhà sản xuất, nhà kho nhóm F5 có cột BTCT thì hệ kèo, hệ giằng mái thép không yêu cầu phải có giải pháp tăng giới hạn chịu lửa nếu bảo đảm đồng thời:
– Nhà sản xuất, nhà xưởng toàn bộ có trang bị hệ thống chữa cháy tự động
– Mặt dưới của các kế cấu này nằm cách sàn ngay dưới chúng một khoảng tối thiểu 6,1m
8/ Điều 3.2.8
Điều 3.2.8 Khi có từ hai lối ra thoát nạn trở lên, chúng phải được bố trí phân tán khi có hai buồng thang thoát nạn nối với nhau bằng một hành lang trong thì khoảng cách giữa hai lối ra thoát nạn (cửa vào buồng thang thoát nạn) được đo dọc theo đường di chuyển theo hành lang đó. Hành lang này phải được bảo vệ theo quy định tại 3.3.5.
Kiến nghị:
Bổ sung trường hợp hai buồng thang thoát nạn nối với nhau bằng một hành lang và không gian gian phòng.
Đề xuất cách tính khoảng cách giữa hai lối ra thoát nạn (cửa vào buồng thang thoát nạn, cửa vào vùng đệm không khí không nhiễm khói đối với thang N1 hoặc cửa vào khoang đệm ngăn cháy luôn có áp suất không khí dương đối với thang N1 và thang N3) được đo dọc theo đường di chuyển theo hành lang đó cộng với đường chéo từ cửa hành lang đến cửa lối ra thoát nạn. Hành lang này phải được bảo vệ theo quy định tại 3.3.5
9/ Điều 3.3.5
Điều 3.3.5: Bộ phận ngăn cháy bao che đường thoát nạn của nhà có bậc chịu lửa I phải làm bằng vật liệu không cháy với giới hạn chịu lửa ít nhất EI 30, và của nhà có bậc chịu lửa II, III, IV phải làm bằng vật liệu không cháy hoặc cháy yếu (Ch1) với giới hạn chịu lửa ít nhất EI 15.
Kiến nghị:
Bổ sung chú thích: Đối với các tầng nhà có hành lang không được bao che bằng các bộ phận ngăn cháy theo quy định tại 3.3.5 hoặc không tuân thủ yêu cầu tại 3.3.4 thì khoảng cách giới hạn cho phép của đường thoát nạn (phụ lục G) phải tính từ điểm xa nhất có thể có người ở của gian phòng trên tầng nhà đó. Các bộ phận bao che này phải được làm bằng vật liệu không cháy hoặc khó cháy.
Chú thích này không áp dụng đối với các tầng nhà có gian phòng karaoke, vũ trường
10/ Điều 3.4 – Phụ lục I.3
Điều 3.4 Về cầu thang bộ và buồng thang thoát nạn
Phụ lục I.3 Về cầu thang bộ và buồng thang thoát nạn
Kiến nghị:
Bổ sung thang chữ X để thoát nạn. Thang chữ X có 2 cầu thang chung 1 buồng thang, lồng tách biệt không thông nhau, có khoang đệm ngăn khói riêng biệt cho từng thang ở các tầng đảm bảo tuân thủ mọi điều kiện của một thang thoát nạn.
11/ Điều D.2, Phụ lục D Về việc hút xả khói
Điều D.2, Phụ lục D Về việc hút xả khói
CHÚ THÍCH 3: Để thông gió tự nhiên khi cháy cho gian phòng phải có các ô cửa sổ mở hoặc lỗ cửa trên tường ngoài tương tự như CHÚ THÍCH 2, với chiều rộng tối thiểu 0,24 m cho mỗi m chiều dài tường ngoài.
Kiến nghị:
Bổ sung thông gió tự nhiên khi cháy cho gian phòng ở tầng trên cùng thông qua các lỗ mở/cửa/van trên mái, các lỗ mở/cửa/van phải tự động mở khi có cháy thông qua tín hiệu báo cháy và bằng nút nhấn bằng tay. Diện tích các lỗ mở phải được tính toán đảm bảo an toàn cho người thoát nạn
